LÃI SUẤT NGÂN HÀNG (INTEREST RATES)

Nếu nói về sự quan trọng thì có lẽ ko có news nào quan trọng như news này. Chiều hướng và sự chuyển động của interest rates se quyết định toàn bộ hướng đi của đồng tiền. Nên có nhiều trader chi tập trung phân tích chiều chuyển động của chỉ số này và có thể đưa ra được những lệnh trade xuyên suốt cả một tháng.

Để hiểu về interest rate đầu tiên chúng ta phải có một cái nhìn tổng thể là thế nào là interest?

Mình xin giới thiệu sơ qua như sau:

–   Interest là một loại phí mà bạn phải trả khi vay vốn. Những loại tài sản như tiền, cổ phiếu, sản phẩm mà các khách hàng thuê, những tài sản chính như máy bay, và thậm chí cả những xí nghiệp lớn thông qua việc sắp xếp của những công ty định giá tài chính. Interest được tính toán dựa trên giá trị của tài sản ở cùng một cách như là trên tiền . Interest có thể được coi như là “ tiền thuê trong giá trị tiền”. Ví dụ, nếu bạn muốn mượn tiền từ ngân hàng, sẽ có một tỉ lệ cụ thể bạn phải tra theo mức mà bạn muốn vay .

–   Khoản phí ấy là sự đền bù cho người cho vay để có thể thực hiện những khoản đầu tư khác có lơi hơn mà người cho vay có thể thực hiện với số tiền đã cho mượn. Người mượn tiền sau đó có thể tận hưởng việc có lời nhờ sử dụng nguồn tiền ấy mà ko cần phải bỏ ra nỗ lực nào hết, trong khi đó người cho vay tận hưởng nguồn lời từ phí mà người mượn tiền trả cho cái quyền lợi ấy. số tiền được mược, hoặc giá trị của tài sản được mượn, được gọi là principal (tiền vốn). Giá trị của số tiền vốn này được người vay tiền nắm giữ bằng khái niệm credit ( tạm dịch là niềm tin hay sự uy tín, mình sẽ nói rõ về khái niệm này ngay). Vì thề mà interest là giá phải trả của credit, ko phải là của số tiền như mọi người thường hiểu lầm. Trong tiền vốn sẽ có một một phần trăm nào đó phải trả như là một loại phí (chính là interest), trong một khoảng thời gian, được gọi là interest rate. . Và đó chính là cái chúng ta đang nói tới.

–   Xin bàn một chút về khái niệm credit! Ở nước ngoài thường những tổ chức tài chính như ngân hàng ko tự dưng mà cho bạn vay tiền hay các hoạt động tài chính nào cả, mà họ yêu cầu bạn phải có credit tức là phải có uy tín. Nên bạn sẽ thường xuyên được nghe cụm từ building credit _ xây dựng uy tín ở nước ngoài. Bạn có thể build credit bằng cách ở nước ngoài lâu, ko vi phạm điều khoản gì với ngân hàng, có thu nhập và chứng minh kinh tế ổn định …… Nhiều khi chẳng vì lí do gì bạn cũng có thể được cho vạy . Chính vì thế mới có khái niệm credit card tức là card mà ngân hàng cho bạn vay tiền dựa trên tình hình uy tín của cá nhân bạn.

Interest thường thay đổi theo tình hình lạm phát và các chính của Ngân hàng dự trữ Liên Bang.
Ở đây mình xin trình bày về tình hình interest rates của Mỹ. Vì interest rates của Mỹ có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường.

–   Ở Mỹ, interest rates được quyết đỉnh bởi Ngân hàng dự trữ liên bang ( Federal Reserve Bank thường gọi là FED) nên còn được gọi là federal funds rate ( lãi xuất quỹ liên bang). Fed funds rates là interest rate mà những quỹ tài chính ( chủ yếu là các ngân hàng) cho vay federal funds ở nguồn dự trữ liên bang tới các tổ chức tài chính khác, thường là qua đêm. Thay đổi tỉ lệ trực tiếp là một hình thức để chủ tịch hội đồng dữ trự liên bang sử dụng để điều chỉnh nguồn cung cấp tiền cho nền tài chính Mỹ.

–   Các ngân hàng và các quỹ tiết kiệm phải tuân theo luật là giữ vững những mức dự trữ, dù là những nguồn dự trữ ko phải chịu lãi gì như với Fed hay là số tiền mặt để sử dụng trong các giao dịch hàng ngày. Mức dự trữ này được quyết định bằng các nguồn nợ và nguồn có của các tổ chức này, cũng như là của chính Fed, nhưng thường là tầm 10% của tổng giá trị các tài khoản tiền mặt của ngân hàng.
Ví dụ: Giả sử là một tổ chức tài chính Mỹ cụ nào đó, trong một quá trình kinh tế bình thường, cho vay một khoảng tiền. Nghĩa là phát tiền ra và làm giảm nguồn dự trữ của ngân hàng. Nếu mực dự trữ hạ xuống dưới mức thấp nhất mà nhà nước quy định, thì ngân hàng ấy phải thêm vào nguồn dự trữ để phù hợp với luật của Fed. Ngân hàng có thể vay mức quỹ cần thiết từ các ngân hàng khác mà có tài khoản thặng dự với Fed. Lãi xuất (interest rate) mà ngân hàng vay này trả cho ngân hàng cho mươn được thỏa hiệp giữa 2 bên, và mức trung bình được áp dụng xuyên suốt tất cả các giao dịch của tỉ lệ này là tỉ lệ có hiệu lực của quỹ liên bang.
–   Còn tỉ lệ trên danh nghĩa là một mục tiêu được những người cầm quyên trong Fed đề ra. Tỉ lệ này có hiệu lực dựa chủ yếu trên các hoạt động thực hiện chính sách tiền tệ. Khi giới truyền thông nhắc tới “ sự thay đổi về interest rates” của Fed, thì có nghĩa là họ đang nói về tỉ lệ này. Còn tỉ lệ thực sự được Fed đề ra thì nằm trong một khoảng của các tỉ lệ mục tiêu này, vì Fed ko thể đặt một giá chị chính xác qua các hoạt động dùng để thực hiện các chính sách tiền tệ được.

–   Một cách khác mà các ngân hàng có thể mượn tiền để giữ được mức dự trữ cần thiết với FED là vay ngay từ Fed theo chính sách cho vay khẩn cấp (gọi là discount window). Những khoản vay này được Fed theo dõi và kiểm tra, và lãi xuất mà các ngân hàng này phải trả ( gọi là discount rate) thì thường là cao hơn với lãi xuất của quỹ fed bt. Sự nhầm lẫn giữa 2 dạng vay tiền này thường dẫn đến sựu nhầm lẫn giữa 2 loại lãi xuất vay (discount rate và interest rate). Một sự khác biệt nữa trong khi Fed ko thể đặt ra một mức fund rate chính xác, thì tổ chức này lại hoàn toàn có thể đặt ra một mức discount rate cụ thể.

–   Mục tiêu cho lãi xuất quỹ của Fed được định ra bởi cuộc họp của FOMC _ Hội đồng Thị trường Mở Liên Bang . Và ở trong forex cũng có một báo cáo gọi là FOMC minutes rất được chú ý. Trong báo cáo FOMC minutes này Fed thể hiện chiều hướng và dự tính của Fed với tỉ lệ lãi xuất, và gần như là một sự khẳng định về tỉ lệ lãi xuất. Báo cáo này thường được ra 2 tuần trước khi news về interest rates ra. Tùy vào điều kiện kinh tế của Mỹ và nhật kí công tác của các thành viên FOMC, mà những thành viên này sẽ tăng, giảm, hoặc giữ nguyên tỉ lệ này. Có thể luận ra những suy đoán của thị trường với các quyết định của FOMC ở những buổi hội nghị trong tương lại Ban Thương Nghiệp Chicago (CBOT), và những dự đoán về các khả năng này thường được giới thông tin tài chính cập nhật một cách rộng rãi.
–   Vay tiền trong hệ thống ngân hàng với nhau là một cách rất cần thiết để cho các ngân hàng có thể nhanh chóng tăng nguồn vốn.

VD: một ngân hàng có thể muốn bỏ vốn cho một dự án công nghiệp lơn nhưng ko có thời gian để các nguồn tiền gửi (deposit) hay lãi xuất ( từ các khoản vay) đến. Trong những trường hợp như vây ngân hàng sẽ nhanh chóng tăng số tiền này từ những ngân hàng khác (bằng cách cho vay tiền) ở mức lãi xuất bằng hoặc cao hơn với mức lãi xuất của quỹ fed.

–   Tăng lãi xuất của quỹ Fed sẽ giúp các ngân hàng tránh khỏi việc vay những nguồn vay liên ngân hàng như thế. Việc này theo đó cũng khiến cho việc thu gom tiền mặt trở nên khó khăn rất nhiều. Ngược lại, hạ lãi xuất ngân hàng đóng vai trò như một công cụ để giúp điều chính nền kinh tế Mỹ theo hướng tự do, và cứ theo cái vòng ấy nền kinh tế thế giới cũng hoạt động như vậy – vì luôn có một mối liên quan mật thiết giữa nền kinh tế thế giới và nền kinh tế của Mỹ.

–   Bằng cách đặt mức discount rate ( chú ý ở trên) Ngân hàng dự trữ Liên Bang ko khuyến khích các ngân hàng trưng thu tiền từ Ngân hàng Liên Bang, nhưng chính những lệnh vay tiền này vẫn là nguồn giải pháp cuối cùng của các ngân hàng.

http://www.dautuvangngoaite.vn

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s